Tăng niềm tin vào giá trị tiền đồng

Một bài báo trên diễn đàn kinh tế Việt Nam

(VEF.VN) – Trong tương lai ngắn hạn, những chính sách chống đôla hóa hiện nay rất cần thiết cho nền kinh tế. Như tôi đã nói chính phủ hay ngân hàng nhà nước không thể kiểm soát việc cung cấp tiền đô và vàng ra ngoài thị trường. Họ chỉ có thể kiểm soát việc cung cấp tiền đồng ra ngoài thị trường. – TGĐ Standard Chartered VN nhận định.

LTS: phần 1 của buổi trực tuyến, ông Louis Taylor, TGĐ Standard Chartered Việt Nam đã chia sẻ những nhận định về kinh tế Việt Nam và cách thức tiếp cận người tiêu dùng thời khủng hoảng. Trong phần tiếp theo, ông Taylor sẽ trao đổi về chính sách tài khóa, đầu tư công và cuộc chiến chống đô la hóa.

Cần 160 tỷ USD đầu tư hạ tầng trong 10 năm

Nhà báo Lê Vũ Phong: Chúng ta đang nói nhiều về cuộc khủng hoảng, trong nghị quyết của chính phủ có nhấn mạnh đến nhiều giải pháp. Trong đó có 2 giải pháp lớn, một là chính sách tiền tệ, hai là chính sách tài khóa. Tất cả đều theo xu hướng thắt chặt hơn. Hiện nay chính sách tiền tệ đang được thực thi một cách rất mạnh mẽ, nó bộc lộ sức ép lên thị trường thì ông có nhận thấy sự chậm trễ nào trong chính sách tài khóa và đầu tư công không ? Ông có cảnh báo gì về điều này?

Ông Louis Taylor: Từ góc nhìn của tôi, để có sự tăng trưởng tốt cho nền kinh tế thì cơ sở hạ tầng rất quan trọng, mà để phát triển cơ sở hạ tầng chúng ta cần rất nhiều sự đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài. Trong những năm vừa qua, chúng ta có thể nhìn thấy tốc độ đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam rất lớn.

Tuy nhiên, với tình hình kinh tế như hiện nay, khi nhà đầu tư bắt đầu đầu tư vào Việt Nam, họ mang USD vào thị trường nhưng lợi nhuận, doanh thu của giai đoạn cuối họ nhận được tiền đồng. Do sự giảm giá của tiền đồng nên lợi nhuận của họ cũng không đáng kế

Như lúc trước tôi nói, để thu hút sự đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam, thứ nhất họ phải có lòng tin vào giá trị của tiền Đồng cũng như sự ổn định của thị trường trong nước. Theo tính toán và theo chúng tôi được biết thì để cơ sở hạ tầng Việt Nam phát triển ở mức tốt và thu hút được đầu tư thì Việt Nam cần khoảng 160 tỷ USD đầu tư vào cơ sở hạ tầng trong vòng 10 năm tới.

Số tiền này sẽ được đầu tư vào các nhà máy điện, đường sá giao thông công cộng, cảng biển, các khu sân bay mới và cải thiện hệ thống giao thông tại Việt Nam. Số tiền này rất lớn so với tổng sản phẩm quốc gia của Việt Nam và hiện nay VN chưa có khả năng để đáp ứng số tiền đầu tư này.

Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu xem xét đến một số chính sách để thu hút, thúc đẩy, tạo thêm nhiều lợi thế của Việt Nam trong con mắt của nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, những chính sách này hiện nay vẫn chưa phải hấp dẫn lắm. Tôi cho rằng Chính phủ Việt Nam cần phải nghiên cứu nhiều hơn nữa và đa dạng hóa các hình thức hợp tác với các nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ, họ có thể cân nhắc và tiếp tục phát triển các chính sách để thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào đây.

Thứ hai, đa dạng hóa hình thức, có thể là đầu tư theo hình thức đầu tư công thương, hoặc hợp tác theo hình thức xây dựng phát triển sau đó chuyển giao cho chính phủ Việt Nam. Có như vậy, hệ thống thủ tục hành chính pháp lý, cũng như đa dạng hóa các hình thức hợp tác mới có thể thu hút các nhà đầu tư tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng nhiều hơn tại đây.

Phát triển cơ sở hạ tầng không chỉ là vấn đề duy nhất Việt Nam cần quan tâm. Theo tôi, Việt Nam cần tiếp tục tập trung đầu tư cho những ngành sản xuất mà đóng góp giá trị phần lớn vào GDP của Việt Nam. Chúng ta có thể nhìn thấy, trong những năm vừa qua, doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam là một thành phần kinh tế rất quan trọng. Họ nhập khẩu nguyên liệu ở nước ngoài, sau đó gia công và chế biến thành phẩm tại Việt Nam sau đó xuất khẩu những sản phẩm hoàn chỉnh ra nước ngoài.

Bên cạnh đó, lợi thế của nền kinh tế Việt Nam là giá nhân công lao động rất rẻ. Đây là điểm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại đây. Chúng ta có thể nhìn thấy Nokia đã bắt đầu có kế hoạch thành lập một nhà máy sản xuất điện thoại di động tại Việt Nam cũng như WinTake họ đã có kế hoạch lập một nhà máy sản xuất màn hình cho Iphone tại đây. Chính những doanh nghiệp và các hình thức sản xuất này đã đem lại sự bình ổn và góp phần tích cực vào sự phát triển nền kinh tế.

Tôi cho rằng, chính phủ Việt Nam nên có những chính sách khuyến khích các loại hình đầu tư như thế này của các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Họ sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, cải thiện thâm hụt thương mại, qua đó tạo sự bình ổn của nền kinh tế.

Thủ tục hành chính của Việt Nam cũng là một vấn đề cần quan tâm. Chính phủ Việt Nam cũng đã quan tâm đến vấn đề này và đã có Đề án 30 để giảm thiểu các thủ tục hành chính và rất nhiều các thủ tục pháp lý áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài khi hoạt động ở Việt Nam.

Việc giảm thiểu thủ tục hành chính này đang trong quá trình áp dụng trong thị trường, dần dần chúng ta có thể nhìn thấy ảnh hưởng tích cực của nó và Việt Nam đang dần trở thành một địa điểm đầu tư hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Nhà báo Lê Vũ Phong: Đầu tư vào hạ tầng là một trong những đầu tư rất lớn của ngân sách, đầu tư công của Việt Nam vào chính sách hạ tầng là rất lớn. Việt Nam coi đó là một phần quan trọng phát triển đất nước. Cái quan trọng hiện nay để chống lạm phát là đầu tư công cũng yêu cầu phải thắt chặt, ngăn chặn nguồn tiền ra thị trường, giảm lạm phát. Có 2 chính sách lớn để chống lạm phát đó là chính sách tiền tệ và chính sách đầu tư công. Hiện nay, chính sách tiền tệ đang được làm rất tốt, nhưng chính sách thắt chặt đầu tư công và các chính sách tài khóa đang chưa được làm tốt. Ông có cảm nhận gì về điều ấy và có cảnh báo gì về thực tế này không?

Ông Louis Taylor: Việc đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng cần rất nhiều đầu tư công từ Nhà nước. Đúng là việc quản lý nguồn vốn đầu tư này có được thực hiện một cách hiệu quả hay không thì đây là một câu hỏi. Chúng ta thấy rất nhiều dự án quản lý không hiệu quả, dẫn đến việc thất thoát nguồn vốn của Nhà nước.

Theo tôi có một số biện pháp chúng ta có thể làm để tăng hiệu quả của chính sách đầu tư công. Thứ nhất, chúng ta cần có một chính sách lộ trình hoặc một bức tranh chung để đưa ra tiêu chuẩn đánh giá dự án nào là quan trọng để tập trung đầu tư. Tôi biết rằng, ở Việt Nam dự án nào cũng rất quan trọng, dẫn đến sự đầu tư dàn trải thiếu tập trung.

Thứ hai, những sự án sau khi quyết định đầu tư chúng ta cần có đội ngũ nhân lực có đủ khả năng cũng như năng lực để quản lý dự án đó hoạt động một cách hiệu quả. Khi vốn được đưa vào đầu tư cho các dự án mà những nhà quản lý không có kinh nghiệm sẽ dẫn đến thất thoát đầu tư công.

Có một số gợi ý từ các nước khác trong chính sách quản lý đầu tư công hoặc việc tăng cường vốn cho việc đầu tư công của nhà nước đó là, chính phủ ở các nước khác chỉ tập trung quản lý những dự án lớn của nhà nước để cho việc phát triển cơ sở hạ tầng. Từ đó, tạo điều kiện cũng như cơ hội cho các doanh nghiệp tư nhân phát triển. Những dự án lớn là những hệ thống giao thông công cộng, phát triển cảng biển, phát triển sân bay cũng như những đường tàu hỏa. Đó là những nền tảng tạo điều kiện hoạt động tốt cho các doanh nghiệp tư nhân hoặc các thành phần kinh tế tham gia.

Ở Việt Nam, ta có thế thấy Chính phủ có sự kiểm soát đối với tất cả các loại doanh nghiệp, doanh nghiệp nhà nước cũng có, doanh nghiệp bán tư nhân cũng có. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện một chính sách rất đúng đó là thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.

Đây cũng là một cách rất tốt để Chính phủ gây thêm tiền vốn để tiếp tục đầu tư cho các dự án lớn, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng cho Việt Nam, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân vào việc quản lý các dự án, đem lại hiệu quả tốt cho nền kinh tế.

Chính vì thế nó có một sự phân khúc rất rõ ràng, Chính phủ quản lý các dự án lớn, tạo điều kiện cũng như nền móng cho việc hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân. Nếu Việt Nam thực sự muốn phát triển cơ sở hạ tầng thì đây là một biện pháp rất tốt. Chính phủ Việt Nam cần tiếp tục tập trung vào các dự án mà chính phủ đứng ra đầu tư.

Tỷ giá cuối năm có thể lên 21.800VND/USD

Nhà báo Lê Vũ Phong: Lúc trước, ông đã nói nhiều về niềm tin của người dân về tiền đồng trong việc lạm phát. Rõ ràng, với việc liên tục lạm phát cao trong mấy năm vừa rồi thì niềm tin vào tiền đồng đang bị giảm sút. Theo ông, ngoài việc ngăn chặn lạm phát ra thì còn có những biện pháp gì để nâng cao niềm tin của người dân đối với tiền đồng Việt Nam?

Ông Louis Taylor: Có những chính sách tích cực và tiêu cực để tăng niềm tin vào giá trị tiền đồng ở Việt Nam.

Chúng ta sẽ nói về những chính sách mang tính tiêu cực trước. Chúng ta có thể làm cho việc sử dụng tiền ngoại tệ như USD và vàng trở nên kém hấp dẫn trong mắt người dân Việt Nam. Gần đây, chính phủ Việt Nam có đưa ra những áp dụng đối với lãi suất đối với tiền ngoại tệ, lãi suất của USD đang trên đà giảm tương đối thấp.

Nhưng bù lại, lãi suất đối với tiền Việt đang tăng cao. Nó sẽ tạo ra một xu hướng người dân bắt đầu đem USD hay vàng đi bán thu tiền Việt và đem gửi tại ngân hàng.

Trường hợp này cũng xảy ra tương tự ở Ấn Độ. Trước kia, ở Ấn Độ người dân có xu hướng sử dụng vàng thay cho đồng nội tệ (rupi). Để tăng cường tính thanh khoản của đồng rupi, và làm cho người dân yên tâm hơn về giá trị của đồng rupi, Ấn Độ đã đưa ra luật yêu cầu khi mua bán giao dịch bất động sản, đồng tiền được sử dụng duy nhất là đồng rupi.

Ở mặt tích cực, Nhà nước nên có chính sách hạn chế việc bơm tiền đồng ra ngoài thị trường. Nếu làm như vậy, người dân sẽ thấy tiền đồng trên thị trường rất hạn chế, từ đó đẩy giá trị của tiền đồng lên.

Cộng với chính sách như áp dụng lãi suất hiện nay để gửi vào ngân hàng thì nhu cầu sở hữu tiền đồng tăng lên. Họ sẽ cảm thấy giá trị của tiền đồng đã bắt đầu tăng lên và dần dần họ sẽ có niềm tin tốt hơn vào việc sử dụng tiền Đồng thay thế cho USD và vàng.

Trước cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, có thể thấy việc sử dụng các nguồn vốn công của Việt Nam rất nhiều. Mức tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng đạt 65% GDP của những năm trước đó và sau đó tiếp tục tăng ở mức 125% GPD. Đây là tốc độ tăng trưởng rất ấn tượng.

Tôi thấy rằng, hạn chế mức tăng trưởng tín dụng là một chính sách tốt mà ngân hàng nhà nước hiên nay đang áp dụng. Điều này cũng đem lại những hạn chế cho những hoạt động của những ngân hàng Standard Chartered tại Việt Nam. Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhìn nhận đây là một chính sách đúng đắn của ngân hàng nhà nước.

Nhà báo Lê Vũ Phong: Cùng với việc nâng cao giá trị tiền Đồng, ở Việt Nam đang có một cuộc chiến gọi là cuộc chiến chống đôla hóa. Từ đầu năm 2011 đến nay đã có rất nhiều động thái. Đầu tiên là nâng tỷ giá lên mức cao nhất từ trước đến nay, sau đó là hàng loạt các biện pháp hành chính khác để chấn chỉnh giao dịch USD trên thị trường. Mới đây nhất thì có một lộ trình là chuyển từ tín dụng USD vay và cho vay mua bán trên thị trường để triệt tiêu tín dụng USD. Ông có ý kiến và nhận định gì về xu hướng chính sách này của Việt Nam?

Ông Louis Taylor: Trong tương lai ngắn hạn, những chính sách chống đôla hóa hiện nay rất cần thiết cho nền kinh tế. Như tôi đã nói chính phủ hay ngân hàng nhà nước không thể kiểm soát việc cung cấp tiền đô và vàng ra ngoài thị trường. Họ chỉ có thể kiểm soát việc cung cấp tiền Đồng ra ngoài thị trường. Việc những chính sách hiện nay đang áp dụng tăng cường việc sử dụng tiền đồng trong các giao dịch của các doanh nghiệp, thông qua đó tạo thêm niềm tin đối với người dân về giá trị của tiền đồng.

Bên cạnh đấy thì có những chính sách tiền tệ như tăng lãi suất của tiền đồng và giảm lãi suất của USD, thì đó cũng là những chính sách rất hữu hiệu trong việc đem lại sự yên tâm của người dân. Tuy nhiên, trong tương lai dài hạn, tôi cho rằng việc áp dụng những chính sách chống đôla hóa như thế này không cần thiết phải duy trì, mà USD nên được coi là một phương tiện thanh toán giao dịch trung gian cho các loại giao dịch và như vậy nó sẽ đem lại một thị trường kinh tế mở, phát triển một cách ổn định và bền vững.

PV: Hiện nay, USD đang ở thế ổn định về tỉ giá, ông có nhận định gì về diễn biến của USD so với đồng Việt Nam trong thời gian từ nay tới cuối năm không?

Ông Louis Taylor: Theo dự đoán của chúng tôi thì đồng tiền Việt Nam sẽ có một đợt điều chỉnh nhẹ tiếp theo trong quý III và IV. Tuy nhiên, chúng tôi cũng rất ngạc nhiên với kết quả của việc áp dụng những chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước. Đó là tiền USD đã được ổn định. Nếu các chính sách kiểm soát lạm phát đem lại những kết quả tốt trong thời gian tới thì theo dự đoán sẽ tiếp tục có 1 đợt giảm giá nhẹ.

Tuy nhiên, tại thời điểm bây giờ, cũng tương đối sớm để có thể nói rằng chúng ra sẽ không còn đợt điều chỉnh nào nữa. Chúng ta sẽ cần tiếp tục xem xét diễn biến của thị trường để kiểm tra lại kết quả của việc thực thi các chính sách của Nhà nước. Nếu có một đợt điều chỉnh nhỏ giá trị của tiền đồng trong quý III và IV tới thì chúng tôi dự đoán tỉ giá là khoảng 21.800VND/USD.

Nói một cách khác, hiện nay còn tương đối sớm để chúng ta có thể kết luận rằng việc giữ tiền đôla đã không còn hấp dẫn nữa so với trước kia hay việc giữ tiền đồng lại trở lên rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Nguồn: http://vef.vn/2011-06-02-ty-gia-cuoi-nam-co-the-len-21-800vnd-usd-

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: